An ninh cảng

TỔ CHỨC HÀNG HẢI QUỐC TẾ
(International Maritime Organization)


 Bộ luật ISPS

Bộ luật Quốc tế về An ninh Tàu và Bến cảng
và bổ sung sửa đổi 2002 của SOLAS

Thông qua ngày 12 tháng 12 năm 2002

Bộ luật Quốc tế về An ninh Tàu và Bến cảng (Bộ luật ISPS) là thành quả chỉ sau hơn một năm làm việc tích cực của ủy ban An toàn Hàng hải IMO và Nhóm Công tác An ninh Hàng hải kể từ khi phiên họp lần thứ 22 của Đại hội đồng, tháng 11 năm 2001, thông qua nghị quyết A.924(22) về việc xem xét lại các biện pháp và qui trình ngăn ngừa các hành động khủng bố đe dọa an ninh của hành khách, thuyền viên và an toàn tàu.

Bộ luật ISPS được thông qua bằng một trong số các nghị quyết do Hội nghị các Chính phủ ký kết Công ước Quốc tế về An toàn Sinh mạng Con người trên Biển, 1974 (Luân-đôn, 9-13 tháng 12 năm 2002) thông qua ngày 12 tháng 12 năm 2002. Một nghị quyết khác đưa ra các bổ sung sửa đổi cần thiết cho chương V và chương XI của SOLAS, theo đó việc tuân thủ Bộ luật này sẽ trở thành bắt buộc kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2004 nếu nó được chấp nhận vào ngày 1 tháng 1 năm 2004. Chương XI hiện có được sửa đổi và đánh số lại là chương XI-1 và chương XI-2 mới được thông qua về các biện pháp nâng cao an ninh hàng hải. Bộ luật ISPS và các bổ sung sửa đổi của SOLAS nêu trong ấn phẩm này cũng như các nghị quyết khác được Hội nghị thông qua (liên quan đến công việc cần phải hoàn thành trước khi có thể triển khai thực hiện Bộ luật vào năm 2004 và việc xem xét lại Bộ luật, sự hợp tác kỹ thuật, và công việc phối hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế và Tổ chức Hải quan Thế giới).

Mục đích của Bộ luật này là thiết lập một khuôn khổ quốc tế liên quan đến việc hợp tác giữa các Chính phủ ký kết, các cơ quan Chính phủ, chính quyền địa phương và ngành công nghiệp vận tải biển và cảng để phát hiện/đánh giá các mối đe dọa an ninh và có các biện pháp ngăn ngừa đối với các sự cố an ninh ảnh hưởng đến tàu và bến cảng được sử dụng trong thương mại quốc tế; thiết lập vai trò và trách nhiệm tương ứng của tất cả các bên liên quan, ở cấp độ quốc gia và quốc tế, để đảm bảo an ninh hàng hải; đảm bảo sự so sánh và trao đổi kịp thời, có hiệu quả những thông tin liên quan đến an ninh; cung cấp phương pháp luận cho việc đánh giá an ninh để có các kế hoạch và qui trình ứng phó với những thay đổi về cấp độ an ninh; và để đảm bảo chắc chắn rằng các biện pháp an ninh hàng hải thích hợp và tương xứng được thực hiện. Những mục đích này phải đạt được bằng cách chỉ định các sĩ quan/nhân viên thích hợp trên mỗi tàu, trong mỗi bến cảng và trong mỗi công ty vận tải biển để chuẩn bị và triển khai các kế hoạch an ninh được phê duyệt cho mỗi tàu và cảng. Phần A của Bộ luật là các yêu cầu bắt buộc liên quan đến các điều khoản của chương XI-2 SOLAS, 1974, đã được sửa đổi, phần B của Bộ luật là hướng dẫn liên quan đến các điều khoản của chương XI-2 SOLAS 1974, đã được sửa đổi, và phần A của Bộ luật.

Thực hiện quyết định số: 191/2003/QĐ-TTg ngày 16/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt sửa đổi, bổ sung năm 2002 một số chương của Công ước Quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển. Quyết định số: 170/2004/QĐ-BGTVT ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải về việc áp dụng sửa đổi bổ sung năm 2002 của Công ước SOLAS 74 và Bộ luật ISPS.

Theo đó, Cảng Quy Nhơn đã hoàn tất việc đánh giá an ninh, xây dựng kế hoạch an ninh và được Cục Hàng Hải Việt Nam xét duyệt và cấp “Giấy chứng nhận phù hợp của Cảng biển” số: ISPS/SoCPF/023/VN ngày 16/6/2014.

Nhận thức rõ ràng việc áp dụng các quy định về an ninh hàng hải quốc tế là hết sức quan trọng và cấp thiết đối với các Doanh nghiệp Cảng biển. Lãnh đạo Cảng Quy Nhơn đã cử cán bộ tham gia các đợt hội thảo, đào tạo, huấn luyện về an ninh hàng hải do Cục Hàng hải Việt Nam, Cục đăng kiểm và tổ chức hàng hải quốc tế IMO tổ chức. Thành lập Ban an ninh Cảng biển Cảng Quy Nhơn gồm 8 thành viên do đồng chí Tổng Giám đốc làm trưởng ban.

Để việc triển khai thực hiện tốt, Cảng Quy Nhơn đã thông báo và có những thỏa thuận với các hãng tàu, các cơ quan có liên quan như bộ đội biên phòng, hải quan, công an, các đơn vị chủ hàng, vận tải, … cùng phối hợp thực hiện một số nội dung quy định của bộ luật. Phối hợp với các đơn vị vận tải điều phối phương tiện giao nhận hàng hóa đậu tại bến bãi và ra vào cổng cảng thuận tiện, đảm bảo an toàn cho người và phương tiện. CBCNV Cảng khi lên tàu làm việc phải đeo bảng tên, trang phục BHLĐ và các giấy tờ có liên quan khác. Khách hàng khi ra vào Cảng phải có giấy tờ hợp lệ, giấy phép ra vào Cảng

LIÊN HỆ:

Phòng Tổ chức-Hành chính.

Điện thọai: 0.56.3892363 / Fax: 0.56.3891783

Email: quinhonport@dng.vnn.vn 

BỘ LUẬT ISPS

MỤC LỤC

Nghị quyết số 2 của Hội nghị: Thông qua Bộ luật Quốc tế về An ninh Tàu và Bến cảng

Bộ luật Quốc tế về An ninh Tàu và Bến cảng

Lời giới thiệu

Phần A: Các yêu cầu bắt buộc của Bộ luật Quốc tế về An ninh Tàu và Bến cảng liên quan đến các điều khoản của chương XI-2

  1. Qui định chung:
    - Giới thiệu
    - Mục đích
    - Các yêu cầu
  2. Định nghĩa
  3. Phạm vi áp dụng
  4. Trách nhiệm của Chính phủ Ký kết
  5. Cam kết an ninh
  6. Nghĩa vụ của Công ty
  7. An ninh Tàu
  8. Đánh giá An ninh Tàu
  9. Kế hoạch An ninh Tàu
  10. Biên bản
  11. Nhân viên An ninh Công ty
  12. Sĩ quan An ninh Tàu
  13. Đào tạo, huấn luyện và thực tập an ninh tàu
  14. An ninh Bến cảng
  15. Đánh giá An ninh Bến cảng
  16. Kế hoạch An ninh Bến cảng
  17. Nhân viên An ninh Bến cảng
  18. Đào tạo, huấn luyện và thực tập an ninh bến cảng
  19. Thẩm tra và chứng nhận tàu:
    - Thẩm tra
    - Cấp và xác nhận Giấy chứng nhận 
    - Thời hạn và hiệu lực của Giấy chứng nhận
    - Chứng nhận tạm thời
    Phụ chương của phần A
    Phụ chương 1: Mẫu Giấy chứng nhận Quốc tế về An ninh Tàu biển
    Phụ chương 2: Mẫu Giấy chứng nhận Quốc tế về An ninh Tàu biển Tạm thời
Phần B: Hướng dẫn liên quan đến các điều khoản của Chương XI-2, Phụ lục Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển 1974, đã được sửa đổi và Phần A của Bộ luật này
  1. Giới thiệu:
    - Qui định chung
    - Trách nhiệm của các Chính phủ ký kết
    - Thiết lập cấp độ an ninh
    - Công ty và Tàu
    - Bến cảng
    - Thông tin và trao đổi thông tin
  2. Định nghĩa
  3. Phạm vi áp dụng
  4. Trách nhiệm của Chính phủ Ký kết:
    - Đánh giá an ninh và kế hoạch an ninh
    - Cơ quan có thẩm quyền
    - Tổ chức an ninh được công nhận
    - Thiết lập cấp độ an ninh
    - Các điểm liên lạc và thông tin trong Kế hoạch An ninh Bến cảng
    - Tài liệu nhận dạng
    - Công trình biển cố định hoặc di động và dàn khoan di động tại vị trí làm việc
    - Các tàu không yêu cầu áp dụng phần A của Bộ luật này
    - Nguy cơ đe dọa tàu và các sự cố khác trên biển
    - Thỏa thuận an ninh thay thế 
    - Biện pháp tương cho bến cảng
    - Mức độ định biên
    - Các biện pháp kiểm soát và tuân thủ
    - Tàu của quốc gia không phải là Thành viên và tàu dưới Công ước
  5. Cam kết An ninh
  6. Nghĩa vụ của Công ty
  7. An ninh Tàu
  8. Đánh giá An ninh Tàu:
    - Đánh giá an ninh
    - Kiểm tra an ninh tại hiện trường
  9. Kế hoạch An ninh Tàu:
    - Qui định chung
    - Tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ an ninh tàu
    - Tiếp cận tàu
    - Các khu vực hạn chế trên tàu
    - Làm hàng
    - Cung cấp đồ dự trữ cho tàu
    - Xử lý hành lý gửi
    - Theo dõi an ninh của tàu
    - Các cấp độ an ninh khác nhau
    - Những hành động Bộ luật không đề cập
    - Cam kết an ninh
    - Đánh giá và soát xét
  10. Biên bản
  11. Nhân viên An ninh Công ty
  12. Sĩ quan An ninh Tàu
  13. Đào tạo, huấn luyện và thực tập an ninh tàu:
    - Đào tạo
    - Huấn luyện và thực tập
  14. An ninh Bến cảng
  15. Đánh giá An ninh Bến cảng:
    - Qui định chung
    - Xác định, đánh giá những tài sản và cơ sở hạ tầng quan trọng cần bảo vệ
    - Xác định các mối đe dọa tiềm tàng đối với các tài sản, cơ sở hạ tầng và khả năng xảy ra để thiết lập và đặt mức ưu tiên cho các biện pháp an ninh
    - Xác định, lựa chọn, đặt mức ưu tiên cho các biện pháp đối phó và các thay đổi thủ tục và mức độ hiệu quả của chúng trong việc giảm khả năng bị tổn hại
    - Xác định khả năng bị tổn hại
  16. Kế hoạch An ninh Bến cảng:
    - Qui định chung
    - Tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ an ninh bến cảng
    - Tiếp cận bến cảng
    - Các khu vực hạn chế trong bến cảng
    - Làm hàng
    - Cung cấp đồ dự trữ cho tàu
    - Xử lý hành lý gửi
    - Kiểm soát an ninh của bến cảng
    - Các cấp độ an ninh khác nhau 
    - Những hoạt động Bộ luật không đề cập
    - Cam kết an ninh
    - Đánh giá, soát xét và bổ sung sửa đổi
    - Phê duyệt Kế hoạch An ninh Bến cảng 
    - Giấy chứng nhận Phù hợp của Bến cảng
  17. Nhân viên An ninh Bến cảng
  18. Đào tạo, huấn luyện và thực tập an ninh bến cảng:
    - Đào tạo
    - Huấn luyện và thực tập
  19. Thẩm tra và chứng nhận tàu

    Phụ chương của phần B
    Phụ chương 1: Mẫu Cam kết an ninh giữa tàu và bến cảng
    Phụ chương 2: Mẫu Giấy chứng nhận Phù hợp của Bến cảng

Nghị quyết số 1 của Hội nghị: Thông qua bổ sung sửa đổi Phụ lục của Công ước Quốc tế về An toàn Sinh mạng Con người trên Biển, 1974

Bổ sung sửa đổi các chương V và XI của SOLAS 1974

Các nghị quyết khác của Hội nghị:

3: Công việc xúc tiến của Tổ chức Hàng hải Quốc tế liên quan đến việc nâng cao an ninh hàng hải
4: Các bổ sung sửa đổi trong tương lai của các chương XI-1 và XI-2 của Công ước SOLAS 1974 về các biện pháp đặc biệt nhằm nâng cao an toàn và an ninh hàng hải
5: Thúc đẩy hợp tác và hỗ trợ kỹ thuật
6: Triển khai thực hiện sớm các biện pháp đặc biệt nhằm nâng cao an ninh hàng hải
7: Thiết lập các biện pháp phù hợp để nâng cao an ninh tàu, bến cảng, dàn khoan di động tại vị trí làm việc, công trình biển cố định và di động không thuộc phạm vi áp dụng của chương XI-2 của Công ước SOLAS 1974
8: Nâng cao an ninh trong việc hợp tác với Tổ chức Lao động Quốc tế 
9: Hợp tác với Tổ chức Hải quan Thế giới để nâng cao an ninh 
10: Triển khai sớm việc nhận dạng và theo dõi từ xa tàu
11: Yếu tố con người và việc đi bờ của thuyền viên.

NỘI DUNG BỘ LUẬT ISPS (Tiếng Việt) (Tải về)