Lịch sử

 
            Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, để phục vụ cho công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước sau chiến tranh, ngày 19/01/1976 Bộ Giao thông Vận tải đã có Quyết định số 222/QĐ-TC về việc thành lập Cảng Quy Nhơn, giao Cục đường biển trực tiếp quản lý. Theo sự điều động của Đảng, một bộ phận cán bộ được phân công tiếp quản cảng trên cơ sở một cảng quân sự phục vụ chiến tranh của chế độ cũ để lại, trang thiết bị, kho tàng, nhà cửa, công cụ sản xuất hầu như chẳng có gì.

Ngày 02 tháng 7 năm 1993, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đã có quyết định số 1332/QĐ-TCCB-LĐ thành lập Doanh nghiệp Nhà nước Cảng Quy Nhơn trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam. Ngày 06/07/2009, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải có Quyết định số 1936/QĐ-BGTVT về việc chuyển Cảng Quy Nhơn về làm thành viên Tổng công ty Hàng hải Việt Nam. Ngày 31 tháng 10 năm 2009, Hội đồng quản trị Tổng công ty Hàng hải Việt Nam đã có quyết định số 804/QĐ-HĐQT về vịêc chuyển Cảng Quy Nhơn – Công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cảng Quy Nhơn.

MỘT SỐ THÀNH TÍCH TIÊU BIỂU ĐẠT ĐƯỢC

 

Công ty TNHH một thành viên Cảng Quy Nhơn bắt đầu thực hiện quá trình cổ phần hóa và chuyển đổi thành công ty cổ phần được thực hiện theo quyết định số 276/QĐ-TTg ngày 04 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án tái cơ cấu Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam giai đoạn 2012-2015; Quyết định số 103/QĐ-HHVN ngày 15/3/2013 của Hội đồng thành viên Tổng công ty Hàng hải Việt Nam về việc phê duyệt danh sách các đơn vị thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam thực hiện cổ phần hóa năm 2013.

Mặc dù thời gian thực hiện cổ phần hóa diễn ra chỉ trong thời gian ngắn nhưng Công ty TNHH một thành viên Cảng Quy Nhơn đã thực hiện quy trình cổ phần hóa Công ty đảm bảo đúng quy định của pháp luật và tiến độ do Tổng công ty Hàng hải Việt Nam và Bộ GTVT yêu cầu, đặc biệt là công tác tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của của Nhà nước về công tác đổi mới và phát triển doanh nghiệp. Bên cạnh đó việc tổ chức bán đấu giá cổ phần lần đầu của Công ty ra công chúng cũng được tổ chức chặt chẽ, đảm bảo đầy đủ các quy định của pháp luật và đạt kết quả tốt. Cảng Quy Nhơn là cảng biển loại 1 thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam đầu tiên thực hiện thành công việc chuyển đổi từ Công ty TNHH một thành viên sang mô hình Công ty cổ phần.

Công ty cổ phần Cảng Quy Nhơn được chuyển đổi từ Công ty TNHH một thành viên Cảng Quy Nhơn, với vốn điều lệ của Công ty là 404.099.500.000 đồng, trong đó Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam nắm giữ 75,01% vốn điều lệ; Số cổ phần ưu đãi của CBCNV trong công ty chiếm 4,81% vốn điều lệ; Số cổ phần của Công đoàn của Công ty chiếm 0,19% vốn điều lệ; Số cổ phần của nhà đầu tư chiến lược chiếm 12,45% vốn điều lệ; số cổ phần của cổ đông đại chúng chiếm 7,54% vốn điều lệ.

Lợi thế của Cảng Quy Nhơn là nằm ở khu vực có điều kiện tự nhiên tốt, có vị trí địa lý thuận lợi gần hệ thống đường sắt quốc gia, quốc lộ 1A, sân bay Phù Cát; là điểm đầu của quốc lộ 19, cánh cửa mở ra biển của khu vực Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông bắc Campuchia và Nam Lào. Tuy có những điều kiện tự nhiên thuận lợi nhưng cảng nằm trong vùng kinh tế có một thời gian dài chậm phát triển, thu hút đầu tư ít, có nhiều khó khăn cả về điều kiện kỹ thuật, cơ sở vật chất, nguồn hàng xuất nhập khẩu, và cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi khí hậu, thời tiết…

Những năm đầu sau giải phóng, nền kinh tế cả nước còn khó khăn nên sự quan tâm đầu tư cho cảng còn rất hạn chế. Dù đội ngũ lãnh đạo và CBCNV của cảng nỗ lực phấn đấu rất nhiều nhưng tổng sản lượng hàng hóa thông qua cảng của năm 1976 chỉ đạt khoảng 50.000 tấn. Trong nhiều năm sau đó, sản lượng hàng hóa thông qua cảng vẫn tăng rất chậm. Nếu năm 1980, đạt 76.243 tấn thì mãi đến 5 năm sau (1985) cũng chỉ mới đạt 151.564 tấn. Trong suốt 11 năm liền (1976 – 1987) việc kinh doanh của cảng hầu như không có lãi, đời sống CBCNV gặp nhiều khó khăn.

Điểm khởi sắc bắt đầu đó là thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước, năm 1989 Cảng Quy Nhơn được Bộ Giao thông Vận tải quyết định cho thực hiện thí điểm mô hình sản xuất kinh doanh tự trang trải. Đây chính là cơ chế quan trọng để Cảng Quy Nhơn phát huy tiềm năng. Ngay trong năm đầu tiên tự hạch toán kinh doanh, tổng sản lượng hàng hóa thông qua cảng đã nâng lên 270.000 tấn gần gấp đôi so với năm trước đó.

Có thể nói chính việc chuyển đổi cơ chế hoạt động các doanh nghiệp đã tận dụng được nhiều lợi thế về tự nhiên cũng như nội lực. Vì vậy, từ năm 1990 đến nay Cảng Quy Nhơn luôn có bước phát triển toàn diện và vững chắc. Tổng sản lượng hàng hóa thông qua cảng năm sau luôn cao hơn năm trước. Năm 2010, sản lượng hàng hóa thông qua Cảng Quy Nhơn là 4.501.555 tấn vượt 204,6% thiết kế (4.501.555.tấn/ 2.200.000 tấn). Năm 2012 sản lượng hàng hóa thông qua Cảng Quy Nhơn đạt 5.778.789 tấn vượt công suất thiết kế 262,7%. Là Cảng dẫn đầu của khu vực Miền Trung và được biểu dương là một trong những cảng của cả nước khai thác có hiệu quả số mét cầu cảng (theo công suất thiết kế 2.200.000T/820 mét cầu cảng = 2.683 T/m,  thì công suất trong năm 2012 Cảng Quy Nhơn đạt được là: 6.848,5 T/m).

Cảng Quy Nhơn là đơn vị thành viên của Tổng Công ty Hàng Hải Việt Nam. Cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực (loại 1) của nhóm Cảng biển Nam Trung bộ, có Bán đảo Phương Mai che chắn, kín gió, rất thuận lợi cho tàu neo đậu và xếp dỡ hàng quanh năm. Luồng tàu và cầu Cảng có độ sâu tự nhiên có thể tiếp nhận được các loại tàu đến 30.000DWWT ra/vào bình thường và tàu 50.000 DWT (giảm tải). Là cửa ngõ ra Biển Đông của khu vực Nam Trung bộ, Tây nguyên và các nước trong Tiểu vùng sông Mê Kông. Nằm sát với tuyến đường hàng hải quốc tế nên rất thuận tiện cho tàu biển nước ngoài ra vào, là vị trí trung tâm của các nước trong vùng Đông Nam Á và Đông Á, có trên 10 tuyến đường biển nối với các cảng quốc tế như: Manila, Singapore, Hong Kong, Cao Hùng (Đài Loan), Băng Cốc (Thái Lan), Tokyo (Nhật Bản), Vladivostok (Nga) v.v...

Cảng Quy Nhơn nằm ở trung tâm Thành phố Quy Nhơn-tỉnh Bình Định (đô thị loại I), Tại vị trí điểm đầu của Quốc lộ 19, nối liền Quốc lộ 1A và Quốc lộ 14 bằng đường bộ tiêu chuẩn đường cấp I, cấp II, quy mô 4 – 6 làn xe. Cách cửa khẩu Đức Cơ  của Việt Nam - CampuChia khoảng 260 km và cách cửa khẩu Bờ Y của Việt Nam - Lào khoảng 310 Km. Cách Ga đường sắt Diêu Trì (Bắc-Nam) khoảng15 km và Ga Hàng không Phù Cát khoảng 30 km.

Thương hiệu Cảng Quy Nhơn được nhiều chủ hàng, chủ tàu trong nước và quốc tế biết đến với năng suất, chất lượng cao, giải phóng tàu nhanh. Cảng có cơ sở hạ tầng và trang thiết bị đủ điều kiện tiếp nhận, xếp dỡ các mặt hàng tổng hợp, hàng container và hàng siêu trường, siêu trọng. Hệ thống quản lý, điều hành của Cảng phù hợp theo tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001:2008, với mục tiêu “UY TÍN-CHẤT LƯỢNG-AN TOÀN-PHÁT TRIỂN”, Được Bộ Khoa học và Công nghệ chứng nhận Cúp vàng ISO năm 2006.